Phân loại
Tên khoa học
Phân bố
Việt nam
Đà Nẵng (Sơn Trà), Quảng Nam (Phước Sơn, Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Hội An, Cù Lao Chàm), Quảng Ngãi (Bình Sơn), Bình Định (Quy Nhơn), Phú Yên (Tây Hòa, Sông Hinh) (Le et al. 2004, Nguyen et al. 2009). Có thể phân bố ở các khu vực đất thấp tại các tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk.
Độ cao ghi nhận thấp nhất
0
Độ cao ghi nhận cao nhất
200
Thế giới
Chưa ghi nhận.
Thông tin đánh giá
Phân hạng
CR
Tiêu chuẩn đánh giá
A2cd+4cd
Diễn giải đánh giá theo các tiêu chuẩn
Đây là loài đặc hữu của Việt Nam, ghi nhận ở các khu vực đất ngập nước ở vùng đồng bằng miền Trung từ Đà Nẵng vào đến Phú Yên; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của quá trình đô thị hóa, các hoạt động sản xuất nông nghiệp, ô nhiễm; loài này rất hiếm gặp trong tự nhiên, là đối tượng bị săn bắt cạn kiệt phục vụ buôn bán, nuôi làm cảnh; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 80% trong vòng 50 năm qua (tương đương 3 thế hệ), các yếu tố đe dọa hiện vẫn đang tiếp diễn (tiêu chuẩn A2cd+4cd).
Hiện trạng quần thể
Hiện trạng quần thể
Rất hiếm gặp do sinh cảnh bị suy thoái và bị săn bắt cạn kiệt.
Xu hướng quần thể
Suy giảm
Đặc điểm sinh học, sinh thái
Đặc điểm sinh cảnh sống
Vùng đầm lầy, hồ nhỏ có dòng chảy chậm. Các thủy vực nhỏ ở vùng đất thấp thuộc các tỉnh miền Trung.
Dạng sinh cảnh phân bố
Đặc điểm sinh sản
Trong điều kiện nuôi nhốt ở miền Bắc, rùa cái đẻ trứng vào các tháng 5 và 6, đẻ 1-4 ổ/năm, mỗi ổ 4-8 trứng. Tống số trứng có thể tới 17 trứng/cá thể cái/năm (McCormack et al. 2014).
Thức ăn
Trong nuôi nhốt ăn cả thực vật và động vật như bắp cải, rau muống, lá bèo tây, cá băm nhỏ, giun đất.
Sử dụng và buôn bán
Bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm, dược liệu, nuôi làm cảnh và buôn bán cả ở trong và ngoài nước.
Mối đe dọa
Sinh cảnh sống của loài đã và đang bị chia cắt và suy thoái nghiêm trọng do quá trình đô thị hóa, chuyển đổi các diện tích đất ngập nước tự nhiên thành đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; quần thể suy giảm do bị săn bắt quá mức phục vụ mục đích buôn bán.
Biện pháp bảo tồn
Đã có
Loài này có tên trong Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ, thuộc Phụ lục I CITES. Đã có chương trình nhân nuôi bảo tồn với khoảng hơn 800 cá thể đã sinh sản thành công tại VQG Cúc Phương (ATP) và Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh.
Đề xuất
Loài này có tên trong Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ, thuộc Phụ lục I CITES. Đã có chương trình nhân nuôi bảo tồn với khoảng hơn 800 cá thể đã sinh sản thành công tại VQG Cúc Phương (ATP) và Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh.
Tài liệu tham khảo
Ernst C.H. & Babour R.W. (1989). Turtles of the World. Smithsonian Institution Press. 313 pp.
McCormack T.E.M., Dawson J.E., Hendrie D.B., Ewert M.A., Iverson J.B., Hatcher R.E. & Goode J.M. (2014). Mauremys annamensis (Siebenrock 1903) – Vietnamese Pond Turtle, Annam Pond Turtle, Rùa Trung Bộ. In: Rhodin A.G.J., Pritchard P.C.H., van Dijk P.P., Saumure R.A., Buhlmann K.A., Iverson J.B. & Mittermeier R.A. (Eds.). Conservation Biology of Freshwater Turtles and Tortoises: A Compilation Project of the IUCN/SSC Tortoise and Freshwater Turtle Specialist Group. Chelonian Research Monographs, 5(7): 081.1-14.
McCormack T., van Dijk P.P., Roberton S. & Dawson J.E. (2020). Mauremys annamensis (amended version of 2020 assessment). The IUCN Red List of Threatened Species: e.T12876A182354172. https://dx.doi.org/10.2305/IUCN.UK.2020-3.RLTS.T12876A182354172.en. Accessed on 20 March 2022.
Nguyen S.V., Ho C.T. & Nguyen T.Q. (2009). Herpetofauna of Vietnam. Edition Chimaira, Frankfurt am Main, 768 pp.